Phối hợp ức chế kép điểm kiểm soát miễn dịch với cemiplimab và fianlimab giúp tăng đáp ứng hóa trị tân bổ trợ ở ung thư vú giai đoạn sớm nguy cơ cao âm tính với ERBB2: Góc nhìn từ thử nghiệm I-SPY2

Thử nghiệm I-SPY2 cho thấy việc phối hợp các thuốc ức chế PD-1 và LAG-3 với hóa trị tân bổ trợ giúp cải thiện rõ rệt tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn bệnh lý ở ung thư vú giai đoạn sớm nguy cơ cao âm tính với ERBB2, đặc biệt ở bệnh nhân có chữ ký miễn dịch dương tính.

Treo tuyến vú tự thân hay dùng implant sau giảm cân nhiều: kết quả và ý nghĩa lâm sàng

Nghiên cứu này so sánh treo tuyến vú tự thân và treo tuyến vú tăng cường bằng implant ở phụ nữ sau giảm cân nhiều, cho thấy treo tuyến vú tự thân đạt mức hài lòng cao hơn, kết quả thẩm mỹ tốt hơn và ít biến chứng hơn khi còn đủ mô vú.

Tăng methyl hóa promoter MLH1 không làm thay đổi tiên lượng sống còn ở ung thư nội mạc tử cung dMMR điều trị bằng thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch

Nghiên cứu này phân tích dữ liệu thực tế cho thấy tăng methyl hóa promoter MLH1 và các đột biến di truyền liên quan đến hội chứng Lynch mang lại tỷ lệ đáp ứng và kết cục sống còn tương tự nhau ở ung thư nội mạc tử cung thiếu hụt sửa chữa bắt cặp sai được điều trị bằng các thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch.

Nhìn lại hội chứng nhau cài răng lược: Tiếp cận theo địa hình để chẩn đoán hình ảnh trước sinh và xử trí phẫu thuật cá thể hóa

Bài viết này phân tích phê bình một khuôn khổ mới dựa trên địa hình trong chẩn đoán hình ảnh trước sinh và chiến lược phẫu thuật cá thể hóa đối với hội chứng nhau cài răng lược, làm nổi bật tiềm năng cải thiện lập kế hoạch phẫu thuật và tối ưu hóa kết cục người bệnh.

Chênh lệch và mức độ duy trì liệu pháp hormone toàn thân ở phụ nữ mãn kinh: Góc nhìn từ một phân tích thực tế quy mô lớn

Một nghiên cứu toàn diện cho thấy tỷ lệ khởi trị, thời gian điều trị và chênh lệch chủng tộc trong việc sử dụng liệu pháp hormone toàn thân ở phụ nữ mãn kinh, nhấn mạnh những khoảng trống chăm sóc quan trọng và nhu cầu can thiệp công bằng.
Giải mã nguy cơ bệnh lý nhau thai ở song thai hai bánh nhau: Các kiểu hình siêu âm của suy giảm tăng trưởng thai

Giải mã nguy cơ bệnh lý nhau thai ở song thai hai bánh nhau: Các kiểu hình siêu âm của suy giảm tăng trưởng thai

Nghiên cứu này xác định các nguy cơ bệnh lý nhau thai khác nhau giữa các kiểu hình tăng trưởng thai được xác định bằng siêu âm ở song thai hai bánh nhau, đồng thời đề xuất phân nhóm nguy cơ để định hướng xử trí lâm sàng và nghiên cứu tương lai về hạn chế tăng trưởng thai khởi phát muộn.
Liệu pháp hormone sau hóa xạ trị: an toàn và lợi ích dài hạn ở người sống sót trẻ sau ung thư cổ tử cung

Liệu pháp hormone sau hóa xạ trị: an toàn và lợi ích dài hạn ở người sống sót trẻ sau ung thư cổ tử cung

Khởi trị liệu pháp hormone trong vòng 1 năm sau hóa xạ trị ở bệnh nhân trẻ mắc ung thư cổ tử cung tiến triển tại chỗ có liên quan với giảm nguy cơ chuyển hóa, xương và mạch máu não, đồng thời cải thiện sống còn mà không làm tăng tổn hại về ung thư học.
Cân bằng giữa nguy cơ và chất lượng cuộc sống: Những yếu tố ảnh hưởng đến thời điểm cắt buồng trứng sau cắt vòi trứng giảm nguy cơ ở người mang BRCA chưa mắc bệnh

Cân bằng giữa nguy cơ và chất lượng cuộc sống: Những yếu tố ảnh hưởng đến thời điểm cắt buồng trứng sau cắt vòi trứng giảm nguy cơ ở người mang BRCA chưa mắc bệnh

Bài viết phân tích các yếu tố lâm sàng và tâm lý-xã hội ảnh hưởng đến quyết định của các previvor BRCA về thời điểm cắt buồng trứng trì hoãn sau cắt vòi trứng giảm nguy cơ, nhấn mạnh sự cân bằng tinh tế giữa lo âu ung thư và những lo ngại về mãn kinh.
Suy giảm thính lực và huyết áp tâm thu tăng cao: Dấu ấn lâm sàng gợi ý nhồi máu não thầm lặng sau sản giật

Suy giảm thính lực và huyết áp tâm thu tăng cao: Dấu ấn lâm sàng gợi ý nhồi máu não thầm lặng sau sản giật

Một nghiên cứu tiến cứu cho thấy suy giảm thính lực và huyết áp tâm thu cao là các dấu ấn lâm sàng dễ tiếp cận, có liên quan đến nhồi máu não thầm lặng ở phụ nữ sau sản giật, qua đó gợi ý khả năng sử dụng chúng như công cụ phân tầng ban đầu để chỉ định chụp thần kinh và theo dõi.
Kết cục sau 10 năm của các lựa chọn phẫu thuật trong lạc nội mạc tử cung trực tràng: phát hiện từ một thử nghiệm ngẫu nhiên có độ tin cậy cao

Kết cục sau 10 năm của các lựa chọn phẫu thuật trong lạc nội mạc tử cung trực tràng: phát hiện từ một thử nghiệm ngẫu nhiên có độ tin cậy cao

Theo dõi 10 năm của một thử nghiệm ngẫu nhiên so sánh cắt bỏ nốt tổn thương bảo tồn với cắt đoạn trong lạc nội mạc tử cung trực tràng cho thấy kết cục chức năng dài hạn tương đương, tỷ lệ tái phát thấp và giảm triệu chứng duy trì bền vững.
Khai thác xét nghiệm HRD và khuếch đại MYC để tối ưu hóa sử dụng chất ức chế PARP trong ung thư biểu mô thanh dịch độ cao buồng trứng BRCA hoang dại

Khai thác xét nghiệm HRD và khuếch đại MYC để tối ưu hóa sử dụng chất ức chế PARP trong ung thư biểu mô thanh dịch độ cao buồng trứng BRCA hoang dại

Bài viết này tổng quan dữ liệu trong thực hành thực tế ủng hộ xét nghiệm thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng (HRD) ở ung thư biểu mô thanh dịch độ cao BRCA1/2 hoang dại, đồng thời xem xét khuếch đại MYC như một dấu ấn sinh học thay thế đầy hứa hẹn để định hướng điều trị bằng chất ức chế PARP.
Ngộ độc chì nặng trong thai kỳ: Những phát hiện từ nghiên cứu quan sát 19 năm tại Thành phố New York

Ngộ độc chì nặng trong thai kỳ: Những phát hiện từ nghiên cứu quan sát 19 năm tại Thành phố New York

Nghiên cứu này khảo sát thai phụ tại Thành phố New York có nồng độ chì trong máu ≥45 mcg/dL, làm rõ các yếu tố nguy cơ văn hóa, kết cục thai kỳ và hiệu quả điều trị nhằm định hướng chiến lược lâm sàng và y tế công cộng.
Khám phá sự đa dạng của nguyên bào sợi trong sa thành âm đạo: góc nhìn từ transcriptomics đơn nhân

Khám phá sự đa dạng của nguyên bào sợi trong sa thành âm đạo: góc nhìn từ transcriptomics đơn nhân

Nghiên cứu này cho thấy các quần thể phụ nguyên bào sợi khác biệt trong mô sa tạng chậu, với sự chuyển dịch về kiểu hình tiền viêm và phân hủy chất nền, làm tổn hại tính toàn vẹn của chất nền ngoại bào và khả năng sửa chữa mô.
Đái tháo đường của mẹ và nguy cơ bệnh tim mạch khởi phát sớm ở con: bằng chứng từ một nghiên cứu đoàn hệ toàn quốc tại Thụy Điển

Đái tháo đường của mẹ và nguy cơ bệnh tim mạch khởi phát sớm ở con: bằng chứng từ một nghiên cứu đoàn hệ toàn quốc tại Thụy Điển

Một nghiên cứu đoàn hệ toàn quốc quy mô lớn tại Thụy Điển cho thấy đái tháo đường của mẹ trong thai kỳ, đặc biệt là đái tháo đường trước khi mang thai, làm tăng đáng kể nguy cơ bệnh tim mạch khởi phát sớm ở con; một phần của mối liên hệ này được trung gian bởi các biến chứng chu sinh.
Đánh giá mức độ dễ đọc của tài liệu giáo dục cho người bệnh ung thư phụ khoa: Thu hẹp khoảng cách giao tiếp

Đánh giá mức độ dễ đọc của tài liệu giáo dục cho người bệnh ung thư phụ khoa: Thu hẹp khoảng cách giao tiếp

Nghiên cứu này đánh giá mức độ dễ đọc của tài liệu giáo dục về ung thư phụ khoa từ các trung tâm ung thư lớn và các tổ chức phi lợi nhuận, cho thấy phần lớn vượt quá các tiêu chuẩn khuyến nghị, từ đó có thể hạn chế khả năng hiểu của người bệnh và quá trình ra quyết định có hiểu biết.
Kết cục dài hạn của sling giữa niệu đạo đường sau xương mu so với đường xuyên lỗ bịt trong tiểu không tự chủ khi gắng sức: Nguy cơ phẫu thuật lại và biến chứng

Kết cục dài hạn của sling giữa niệu đạo đường sau xương mu so với đường xuyên lỗ bịt trong tiểu không tự chủ khi gắng sức: Nguy cơ phẫu thuật lại và biến chứng

Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên 887 phụ nữ cho thấy kết quả dài hạn của sling giữa niệu đạo đường sau xương mu và đường xuyên lỗ bịt trong điều trị tiểu không tự chủ khi gắng sức. Kết quả cho thấy tỷ lệ phẫu thuật lại cao hơn ở nhóm sling xuyên lỗ bịt, đặc biệt khi phối hợp với phẫu thuật sửa sa tạng chậu, trong khi sling sau xương mu có nguy cơ bí tiểu cao hơn.
So sánh hiệu quả và độ an toàn dài hạn giữa hysteropexy bằng mô tự thân và cắt tử cung trong sa tạng chậu vùng đỉnh

So sánh hiệu quả và độ an toàn dài hạn giữa hysteropexy bằng mô tự thân và cắt tử cung trong sa tạng chậu vùng đỉnh

Nghiên cứu này so sánh tỷ lệ tái điều trị dài hạn và biến chứng ngắn hạn ở phụ nữ được hysteropexy bằng mô tự thân so với cắt tử cung kèm treo đỉnh để điều trị sa tạng chậu, cho thấy nguy cơ tái điều trị cao hơn nhưng ít biến chứng sớm hơn ở nhóm hysteropexy.
Mở rộng tiếp cận tránh thai trong hệ thống Cựu chiến binh: thí điểm dược sĩ kê đơn thuốc tránh thai nội tiết và cấp phát 12 tháng

Mở rộng tiếp cận tránh thai trong hệ thống Cựu chiến binh: thí điểm dược sĩ kê đơn thuốc tránh thai nội tiết và cấp phát 12 tháng

Một nghiên cứu thí điểm của VA cho thấy việc dược sĩ cung cấp và cấp phát thuốc tránh thai nội tiết trong 12 tháng là khả thi, cải thiện khả năng tiếp cận và nâng cao mức độ hài lòng ở nữ cựu chiến binh cũng như dược sĩ.
Khâu cổ tử cung cấp cứu một mức hay hai mức: Đánh giá kết cục thai kỳ trong hở eo cổ tử cung tiến triển

Khâu cổ tử cung cấp cứu một mức hay hai mức: Đánh giá kết cục thai kỳ trong hở eo cổ tử cung tiến triển

Thử nghiệm ngẫu nhiên đa trung tâm này cho thấy khâu cổ tử cung cấp cứu hai mức không vượt trội có ý nghĩa so với khâu một mức khi phối hợp progesterone đường âm đạo trong phòng ngừa sinh trước 34 tuần ở phụ nữ có giãn cổ tử cung tiến triển và màng ối thai nhi lộ ra.