Gánh nặng hồi sức tích cực và kết cục đang thay đổi ở hội chứng tim phổi do Andes virus: dữ liệu từ một đoàn hệ quốc gia Chile

Nghiên cứu này đánh giá xu hướng hỗ trợ hô hấp và tử vong ở hội chứng tim phổi do hantavirus (HCPS) gây bởi Andes virus tại Chile, cho thấy tỷ lệ tử vong tăng trong giai đoạn đại dịch COVID-19 và nhu cầu cao đối với các can thiệp hô hấp xâm nhập.

Bốn nhóm trong buồng ối của vỡ ối non trước chuyển dạ: Phân bố theo tuổi thai, đặc điểm vi sinh dịch ối và kết cục sơ sinh

Nghiên cứu này phân loại vỡ ối non trước chuyển dạ (PROM) thành bốn nhóm trong buồng ối, mô tả khác biệt theo tuổi thai, đặc điểm vi sinh của dịch ối và kết cục sơ sinh, đồng thời nhấn mạnh nguy cơ do các nhiễm trùng ngoài Ureaplasma spp.

Loạn sản hậu môn liên quan HPV ở người ghép tạng đặc: làm rõ rối loạn miễn dịch niêm mạc đặc hiệu sau ghép

Người nhận ghép tạng đặc có nguy cơ cao mắc loạn sản hậu môn do HPV và ung thư hậu môn do những thay đổi miễn dịch đặc thù liên quan đến ức chế miễn dịch. Bài viết này phân tích rối loạn miễn dịch đặc hiệu sau ghép làm nền cho tình trạng nhiễm HPV dai dẳng và tiến triển loạn sản, qua đó gợi ý ý nghĩa đối với sàng lọc và xử trí.

Xu hướng thay đổi của nhiễm khuẩn huyết khởi phát muộn ở trẻ sinh cực non: Kết quả từ nghiên cứu quần thể kéo dài 14 năm

Tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết khởi phát muộn (LOS) ở trẻ sinh cực non giảm từ năm 2010 đến 2017 nhưng đã tăng trở lại kể từ đó, chủ yếu do gia tăng nhiễm trùng từ vi khuẩn Gram dương không thuộc CoNS và tác nhân Gram âm, đặc biệt là Staphylococcus aureus và các loài Klebsiella.

Loạn sản hậu môn liên quan đến HPV ở người nhận ghép tạng đặc: Làm rõ rối loạn điều hòa miễn dịch niêm mạc đặc hiệu cho ghép tạng

Người nhận ghép tạng đặc có nguy cơ cao mắc loạn sản hậu môn và ung thư liên quan đến HPV do những biến đổi ức chế miễn dịch đặc thù. Mô hình suy giảm miễn dịch niêm mạc được điều chỉnh theo ghép tạng giải thích cơ chế dẫn đến nhiễm HPV dai dẳng và tiến triển loạn sản, qua đó định hướng các chiến lược sàng lọc và điều trị trong tương lai.

Sau COVID-19, việc sử dụng dịch vụ y tế thay đổi ra sao? Khác biệt rõ theo mức độ nặng ban đầu

Nghiên cứu này phân tích việc sử dụng dịch vụ y tế đến 12 tháng sau nhiễm COVID-19, cho thấy mức sử dụng tăng kéo dài, đặc biệt ở nhóm phải nhập viện, qua đó nhấn mạnh nhu cầu chăm sóc liên tục đối với người sống sót sau COVID-19.

Long COVID trong thai kỳ: Đánh giá nguy cơ sinh non và rối loạn tăng huyết áp

Nghiên cứu này đánh giá tác động của Long COVID lên kết cục thai kỳ, cho thấy không có nguy cơ sinh non tăng đáng kể nhưng có thể có mối liên quan với rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ, nhấn mạnh nhu cầu nghiên cứu thêm.

Dự phòng kháng sinh phổ rộng được áp dụng sớm trong phẫu thuật cắt tá tụy: Từ bằng chứng thử nghiệm đến thực hành

Dựa trên dữ liệu thử nghiệm then chốt cho thấy dự phòng bằng piperacillin-tazobactam trong phẫu thuật cắt tá tụy làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng và rò tụy, việc sử dụng kháng sinh phổ rộng đã tăng đáng kể, đặc biệt ở bệnh nhân có đặt stent đường mật; tuy nhiên, chênh lệch theo chủng tộc trong sử dụng vẫn còn tồn tại.

Ghép thận từ người hiến có HCV: dự phòng kháng vi rút ngắn ngày quanh phẫu thuật cho kết quả đầy hứa hẹn

Dự phòng sofosbuvir/velpatasvir quanh phẫu thuật trong 7 ngày ở ghép thận từ người hiến dương tính với HCV sang người nhận âm tính với HCV đã đạt đáp ứng vi rút bền vững ở hơn 92% trường hợp, với tỷ lệ sống của mảnh ghép và chức năng thận thuận lợi sau 1 năm.

Vắc-xin Rotavirus giúp giảm đáng kể tỷ lệ tử vong do viêm dạ dày ruột cấp tính liên quan đến Rotavirus ở trẻ em dưới 5 tuổi: Những thông tin từ bộ dữ liệu toàn cầu MNSSTER-V

Phân tích gộp từ 22 quốc gia cho thấy tiêm vắc xin rotavirus có hiệu quả rất cao trong phòng ngừa tử vong do viêm dạ dày ruột cấp tính dương tính với rotavirus ở trẻ dưới 5 tuổi, nhấn mạnh vai trò then chốt của vắc xin này trong việc giảm tử vong do tiêu chảy ở trẻ em trên toàn thế giới.

Các kiểu triệu chứng và kết cục khác nhau của tác nhân gây bệnh hô hấp ở trẻ nhỏ tại Hoa Kỳ: phát hiện từ nghiên cứu đoàn hệ 2019–2025

Nghiên cứu theo dõi dọc này mô tả sự biến thiên triệu chứng và kết cục của nhiễm trùng hô hấp ở trẻ nhỏ, cho thấy các kiểu mức độ nặng đặc hiệu theo tuổi và những khác biệt rõ rệt giữa cúm A và cúm B.

AHB-137: Nghiên cứu đầu tiên trên người cho thấy hoạt tính kháng virus đầy hứa hẹn và độ an toàn khả quan trong điều trị viêm gan B mạn tính

AHB-137, một oligonucleotide antisense nhắm vào HBV mRNA, cho thấy độ an toàn, dược động học thuận lợi và khả năng làm giảm nhanh HBsAg ở người tình nguyện khỏe mạnh và bệnh nhân viêm gan B mạn tính, qua đó ủng hộ việc tiếp tục phát triển lâm sàng.

Rối loạn chức năng phổi kéo dài sau lao ngoài phổi: Làm rõ gánh nặng ẩn của bệnh phổi sau lao

Người sống sót sau lao ngoài phổi có suy giảm chức năng phổi và triệu chứng hô hấp dai dẳng, cho thấy cần sàng lọc và quản lý bệnh phổi sau lao không chỉ ở các trường hợp lao phổi.

Điều trị nấm da đầu: hiệu quả của các thuốc kháng nấm qua nghiên cứu đa trung tâm tại Trung Quốc

Một nghiên cứu thực tế, tiến cứu, đa trung tâm tại Trung Quốc đã đánh giá kết quả điều trị nấm da đầu, cho thấy itraconazole có hiệu quả vượt trội so với terbinafine ở một số chủng nấm như Microsporum canis, qua đó cung cấp cơ sở cho chiến lược kháng nấm tối ưu hơn.

SwissLEGIO: Thang điểm đơn giản hóa giúp tối ưu xét nghiệm Legionella trong viêm phổi mắc phải cộng đồng

Thang điểm SwissLEGIO giúp cải thiện dự đoán Legionella trong viêm phổi mắc phải cộng đồng, tăng độ đặc hiệu nhưng vẫn duy trì độ nhạy cao, từ đó tối ưu hóa xét nghiệm vi sinh và nâng cao hiệu quả quản lý lâm sàng.

Tăng hiệu quả điều trị viêm gan B: pegylated interferon sau ngừng nucleos(t)ide analogue giúp cải thiện mất HBsAg ở bệnh nhân HBeAg âm tính

Bổ sung pegylated interferon sau khi ngừng nucleos(t)ide analogue ở viêm gan B mạn tính HBeAg âm tính làm tăng đáng kể tỷ lệ mất HBsAg và giảm các đợt bùng phát gan nặng trong 3 năm so với chỉ ngừng thuốc.

Bộ lọc HEPA tại viện dưỡng lão: AFRI-c không ghi nhận giảm nhiễm trùng hô hấp mùa đông

Thử nghiệm AFRI-c cho thấy việc sử dụng bộ lọc HEPA trong các viện dưỡng lão vào mùa đông không làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm trùng hô hấp hay tình trạng nhân viên nghỉ việc, qua đó nhấn mạnh sự cần thiết phải duy trì các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn đã được thiết lập.

Vượt qua bất định: Tạo bằng chứng nhanh và chuyển hóa chiến lược chống đông ở bệnh nhân COVID-19 nhập viện nhưng không nguy kịch

Bài viết này tổng quan về quá trình tạo bằng chứng tăng tốc cho chống đông ở bệnh nhân COVID-19 nhập viện nhưng không nguy kịch, làm nổi bật cách các thử nghiệm phối hợp và chia sẻ dữ liệu đã tác động đến hướng dẫn lâm sàng và kết cục người bệnh trong đại dịch.
Kết hợp dấu ấn giảm tưới máu mô với liều thuốc vận mạch giúp tăng độ chính xác phân tầng nguy cơ tử vong trong sốc nhiễm khuẩn kháng trị

Kết hợp dấu ấn giảm tưới máu mô với liều thuốc vận mạch giúp tăng độ chính xác phân tầng nguy cơ tử vong trong sốc nhiễm khuẩn kháng trị

Giảm tưới máu mô kéo dài kết hợp với liều thuốc vận mạch giúp cải thiện phân tầng nguy cơ sớm trong sốc nhiễm khuẩn kháng trị, qua đó nhận diện nhóm bệnh nhân có tỷ lệ tử vong 28 ngày tăng rõ rệt vượt ra ngoài giá trị của riêng liều thuốc vận mạch, theo phân tích thứ cấp của thử nghiệm ANDROMEDA-SHOCK-2.
Giảm nhiễm trùng vết mổ trong tái tạo vú bằng implant: Tác động lâm sàng của quy trình GAPS sau 5 năm

Giảm nhiễm trùng vết mổ trong tái tạo vú bằng implant: Tác động lâm sàng của quy trình GAPS sau 5 năm

Quy trình GAPS đã làm giảm đáng kể nhiễm trùng vết mổ trong tái tạo vú bằng implant trong 5 năm, cho thấy kiểm soát nhiễm trùng quanh phẫu thuật theo quy trình có thể cải thiện kết quả điều trị và hiệu quả chăm sóc y tế.