Nền tảng điều kiện hóa thống nhất với fludarabine, cyclophosphamide và xạ trị toàn thân 2 Gy kết hợp cyclophosphamide sau ghép trong dự phòng GVHD cho bệnh nhân AML/MDS lớn tuổi ghép từ người cho haploidentical hoặc không cùng huyết thống

Nền tảng điều kiện hóa thống nhất với fludarabine, cyclophosphamide và xạ trị toàn thân 2 Gy kết hợp cyclophosphamide sau ghép trong dự phòng GVHD cho bệnh nhân AML/MDS lớn tuổi ghép từ người cho haploidentical hoặc không cùng huyết thống

Fludarabine, cyclophosphamide và xạ trị toàn thân liều thấp phối hợp với cyclophosphamide sau ghép tạo thành một nền tảng đơn lẻ an toàn và hiệu quả cho allo-SCT ở bệnh nhân AML/MDS lớn tuổi, với kết cục sống còn và GVHD thuận lợi.
Giải mã gradient biểu hiện CD79B trong u lympho tế bào B lớn lan tỏa: Ý nghĩa đối với biệt hóa tế bào B vùng trung tâm mầm và nhắm đích điều trị

Giải mã gradient biểu hiện CD79B trong u lympho tế bào B lớn lan tỏa: Ý nghĩa đối với biệt hóa tế bào B vùng trung tâm mầm và nhắm đích điều trị

Biểu hiện CD79B trong u lympho tế bào B lớn lan tỏa (DLBCL) cho thấy một gradient rõ rệt, tương ứng với các phân nhóm nguồn gốc tế bào và các giai đoạn biệt hóa của tế bào B vùng trung tâm mầm, qua đó làm nổi bật nền tảng sinh học của đáp ứng điều trị khác biệt.
Giải mã rối loạn miễn dịch trong u lympho tế bào B lớn lan tỏa dương tính với EBV: Vai trò của mất chức năng kháng virus toàn thân và ức chế dòng myeloid

Giải mã rối loạn miễn dịch trong u lympho tế bào B lớn lan tỏa dương tính với EBV: Vai trò của mất chức năng kháng virus toàn thân và ức chế dòng myeloid

U lympho tế bào B lớn lan tỏa dương tính với EBV cho thấy suy giảm nặng miễn dịch tế bào T kháng virus toàn thân và vi môi trường khối u ức chế miễn dịch do LMP1 chi phối, qua đó hé lộ những hiểu biết miễn dịch học mới với ý nghĩa điều trị.
Khoảng thời gian từ chẩn đoán đến điều trị ảnh hưởng thế nào đến kết cục ở u lympho nang điều trị bằng hóa trị – miễn dịch

Khoảng thời gian từ chẩn đoán đến điều trị ảnh hưởng thế nào đến kết cục ở u lympho nang điều trị bằng hóa trị – miễn dịch

Khoảng thời gian ngắn hơn từ chẩn đoán đến điều trị là yếu tố dự báo độc lập cho kết cục xấu hơn ở u lympho nang được điều trị bằng hóa trị - miễn dịch, nhấn mạnh một yếu tố tiên lượng mới vượt ra ngoài các chỉ số nguy cơ hiện có.
Calprotectin trong phân: biomarker tiềm năng để chẩn đoán và theo dõi bệnh ghép chống chủ ở đường tiêu hóa sau ghép tế bào gốc tạo máu dị gen

Calprotectin trong phân: biomarker tiềm năng để chẩn đoán và theo dõi bệnh ghép chống chủ ở đường tiêu hóa sau ghép tế bào gốc tạo máu dị gen

Calprotectin trong phân là một biomarker không xâm lấn, có tính động, hữu ích trong dự đoán, chẩn đoán và theo dõi GI-GVHD sau allo-HSCT; chỉ dấu này tương quan với mức độ nặng qua nội soi và đáp ứng điều trị, nhưng cần diễn giải trong bối cảnh lâm sàng đầy đủ do tính đặc hiệu còn hạn chế.
Cải thiện điều trị bệnh bạch cầu tủy cấp tính: Ức chế kép CDK2 và CDK4/6 nhắm vào chu kỳ tế bào và tín hiệu Rb/E2F

Cải thiện điều trị bệnh bạch cầu tủy cấp tính: Ức chế kép CDK2 và CDK4/6 nhắm vào chu kỳ tế bào và tín hiệu Rb/E2F

Ức chế kép CDK2 và CDK4/6 cho thấy tác dụng chống bạch cầu hiệp đồng trong AML bằng cách ức chế trục Rb/E2F, qua đó mở ra một chiến lược điều trị đầy hứa hẹn nhằm cải thiện kết cục ở bệnh ác tính huyết học khó điều trị này.
Mẫn cảm α-Gal: nguyên nhân tiềm ẩn của phản ứng dị ứng nặng ở người nhận nhóm máu O khi truyền huyết tương và tiểu cầu nhóm B/AB

Mẫn cảm α-Gal: nguyên nhân tiềm ẩn của phản ứng dị ứng nặng ở người nhận nhóm máu O khi truyền huyết tương và tiểu cầu nhóm B/AB

Phản ứng truyền máu dị ứng nặng ở người nhận nhóm máu O khi nhận huyết tương hoặc tiểu cầu nhóm B/AB có liên quan đến kháng thể IgE chống epitope α-Gal, cho thấy một cơ chế miễn dịch mới và một hướng phân tầng nguy cơ tiềm năng.
CHIP trước chẩn đoán làm tăng nguy cơ ung thư thứ hai ở bệnh nhân ung thư nguyên phát

CHIP trước chẩn đoán làm tăng nguy cơ ung thư thứ hai ở bệnh nhân ung thư nguyên phát

Bệnh nhân ung thư nguyên phát có CHIP trước chẩn đoán phải đối mặt với nguy cơ cao hơn mắc ung thư thứ hai, đặc biệt là ung thư máu. Kết quả cho thấy CHIP có thể giúp nhận diện những người sống sót sau ung thư cần được theo dõi dài hạn chặt chẽ hơn.
Nhắm vào ức chế miễn dịch dòng tủy sau ghép trong đa u tủy: vì sao chặn CSF-1R có thể tăng cường duy trì lenalidomide sau ASCT

Nhắm vào ức chế miễn dịch dòng tủy sau ghép trong đa u tủy: vì sao chặn CSF-1R có thể tăng cường duy trì lenalidomide sau ASCT

Một nghiên cứu mới trên Blood liên hệ tái phát sau ASCT ở đa u tủy với các đại thực bào tủy xương ức chế biểu hiện CSF-1R+, đồng thời cho thấy ức chế CSF-1R hiệp đồng với lenalidomide trong các mô hình tiền lâm sàng, qua đó cung cấp cơ sở chuyển dịch mạnh mẽ cho phối hợp duy trì sau ghép.
Nghiên cứu thăm dò: Ghép tế bào gốc tạo máu dị hợp tử một phần dựa trên busulfan kết hợp liệu pháp kháng thể GD2 cho u nguyên bào thần kinh nguy cơ cao

Nghiên cứu thăm dò: Ghép tế bào gốc tạo máu dị hợp tử một phần dựa trên busulfan kết hợp liệu pháp kháng thể GD2 cho u nguyên bào thần kinh nguy cơ cao

Một nghiên cứu thăm dò nhỏ cho thấy ghép tế bào gốc tạo máu dị hợp tử một phần dựa trên busulfan, sau đó dùng dinutuximab beta, có tính khả thi và có thể cải thiện lui bệnh lâu dài ở u nguyên bào thần kinh nguy cơ rất cao.
Hồ sơ miễn dịch độ phân giải cao giai đoạn sớm liên quan đến sống còn và tái phát sau ghép tế bào gốc dị gen

Hồ sơ miễn dịch độ phân giải cao giai đoạn sớm liên quan đến sống còn và tái phát sau ghép tế bào gốc dị gen

Phân tích miễn dịch sớm sau ghép tế bào gốc dị gen có liên quan đến sống còn và nguy cơ tái phát. Sự phục hồi mạnh hơn của miễn dịch bẩm sinh và thích ứng dự đoán kết cục tốt hơn, trong khi một số dấu ấn hoạt hóa và điểm kiểm soát miễn dịch lại liên quan đến sống còn kém hơn.
Ixazomib, Pomalidomide và Dexamethasone đường uống hai lần mỗi tuần cho thấy hiệu quả bền vững ở đa u tủy tái phát/kháng trị

Ixazomib, Pomalidomide và Dexamethasone đường uống hai lần mỗi tuần cho thấy hiệu quả bền vững ở đa u tủy tái phát/kháng trị

Một nghiên cứu pha I/II cho thấy phác đồ ixazomib dùng hai lần mỗi tuần phối hợp với pomalidomide-dexamethasone là lựa chọn đường uống hoàn toàn khả thi trong đa u tủy tái phát/kháng trị, với tỷ lệ đáp ứng 65,8% tại RP2D và độc tính huyết học có thể kiểm soát.
Các tế bào thông thường CD4+ FOXP3+ Helios+ giống như tế bào điều tiết liên quan đến kích hoạt tế bào T sau liệu pháp miễn dịch Orca-T

Các tế bào thông thường CD4+ FOXP3+ Helios+ giống như tế bào điều tiết liên quan đến kích hoạt tế bào T sau liệu pháp miễn dịch Orca-T

Một nghiên cứu trên bệnh nhân bạch cầu đã phát hiện rằng liệu pháp cấy ghép Orca-T tăng một nhóm tế bào T CD4+ FOXP3+ Helios+ giống như tế bào điều tiết sớm sau khi điều trị, và nhóm này liên quan đến kích hoạt tế bào T sau đó, cung cấp một dấu ấn sinh học tiềm năng cho sự phục hồi miễn dịch.
Tín hiệu IL-1β tự tăng cường thúc đẩy sự phát triển và tái phát của B-ALL dương tính với TCF3::HLF

Tín hiệu IL-1β tự tăng cường thúc đẩy sự phát triển và tái phát của B-ALL dương tính với TCF3::HLF

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng tín hiệu IL-1β thúc đẩy sự phát triển, tái phát và tổn thương xương trong B-ALL dương tính với TCF3::HLF, cho thấy việc chặn IL-1β có thể cung cấp một chiến lược điều trị mới.
Việc Chọn Người Hiến Tế Bào Gốc: Tại Sao Tuổi Đóng Vai Trò Quan Trọng Hơn Ở Một Số Ghép So Với Những Ghép Khác

Việc Chọn Người Hiến Tế Bào Gốc: Tại Sao Tuổi Đóng Vai Trò Quan Trọng Hơn Ở Một Số Ghép So Với Những Ghép Khác

Một nghiên cứu lớn năm 2026 cho thấy tuổi của người hiến ảnh hưởng đến sự sống sót khác nhau giữa ghép tế bào gốc không phù hợp hoàn toàn và ghép không có mối quan hệ, cung cấp một khung công cụ thực tế hơn để chọn người hiến tốt nhất.
CBFB::MYH11 MRD sau chu kỳ hóa trị thứ hai: Hướng dẫn cấy ghép tế bào gốc đồng loại trong AML nguy cơ thuận lợi

CBFB::MYH11 MRD sau chu kỳ hóa trị thứ hai: Hướng dẫn cấy ghép tế bào gốc đồng loại trong AML nguy cơ thuận lợi

CBFB::MYH11 MRD sau chu kỳ 2 dự đoán tốt nhất kết quả trong AML nguy cơ thuận lợi. Bệnh nhân có mức độ ≥1% có nguy cơ tái phát cao hơn, và những người nhận cấy ghép tế bào gốc đồng loại (allo-HCT) trong CR1 có tỷ lệ sống không bệnh 3 năm tốt hơn so với hóa trị củng cố.
Xét nghiệm đột biến toàn diện và kết quả lâm sàng ở người lớn mắc bệnh bạch cầu cấp tính tủy (AML) có sự sắp xếp lại của gen NUP98

Xét nghiệm đột biến toàn diện và kết quả lâm sàng ở người lớn mắc bệnh bạch cầu cấp tính tủy (AML) có sự sắp xếp lại của gen NUP98

Bệnh bạch cầu cấp tính tủy (AML) ở người lớn có sự sắp xếp lại của gen NUP98 là một subtype có nguy cơ cao, được đặc trưng bởi sự xuất hiện thường xuyên của các đột biến FLT3-ITD và WT1, tiên lượng sống kém và có thể hưởng lợi từ việc sử dụng chất ức chế FLT3 và ghép tế bào gốc.