Điểm nổi bật

  • Hạn chế năng lượng trong tam cá nguyệt thứ ba ở phụ nữ mắc đái tháo đường thai kỳ không ảnh hưởng bất lợi đến tăng trưởng hay các chỉ số cân nặng của trẻ đến 12 tháng sau sinh.
  • Những phụ nữ giảm cân trong thai kỳ có cân nặng mẹ thấp hơn tại thời điểm 3 tháng sau sinh mà không gây ảnh hưởng tiêu cực đến quỹ đạo tăng trưởng của trẻ.
  • Trẻ có mẹ giảm cân trong thai kỳ có nguy cơ sinh to theo tuổi thai (LGA, Large-for-Gestational Age) thấp hơn khi sinh và không ghi nhận tình trạng chậm tăng trưởng hay tăng bù bất thường trong năm đầu đời.
  • Hạn chế năng lượng và giảm cân thai kỳ có kiểm soát dường như an toàn và có thể giúp giảm nguy cơ thai phát triển quá mức ở các thai kỳ có đái tháo đường thai kỳ.

Bối cảnh nghiên cứu

Đái tháo đường thai kỳ (GDM, Gestational Diabetes Mellitus) là một biến chứng thai kỳ thường gặp, đặc trưng bởi tình trạng giảm dung nạp glucose, ảnh hưởng khoảng 5–15% các thai kỳ trên toàn thế giới. GDM liên quan đến nguy cơ gia tăng các biến cố bất lợi ở mẹ và trẻ sơ sinh, bao gồm thai phát triển quá mức, biến chứng khi sinh và nguy cơ chuyển hóa lâu dài cho cả mẹ và con. Tăng cân thai kỳ quá mức càng làm trầm trọng thêm các nguy cơ này, từ đó thúc đẩy nhu cầu tìm kiếm các chiến lược tối ưu hóa chuyển hóa của mẹ và sự phát triển của thai nhi.

Trong điều trị đái tháo đường type 2 ngoài thai kỳ, hạn chế năng lượng mức độ vừa và giảm cân là những biện pháp đã có bằng chứng giúp cải thiện kiểm soát đường huyết một cách an toàn. Tuy nhiên, tính an toàn và tác động của hạn chế năng lượng hoặc giảm cân của mẹ trong giai đoạn cuối thai kỳ ở phụ nữ mắc GDM vẫn còn gây tranh cãi do lo ngại về nguy cơ hạn chế tăng trưởng thai nhi hoặc ảnh hưởng lâu dài đến phát triển của trẻ. Khoảng trống kiến thức này làm hạn chế việc đưa ra hướng dẫn xác định về quản lý dinh dưỡng tối ưu cho nhóm đối tượng này.

Thiết kế nghiên cứu

Thử nghiệm DiGest là một nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên, có đối chứng, được thực hiện ở phụ nữ mang thai được chẩn đoán GDM và có chỉ số khối cơ thể (BMI, Body Mass Index) ≥25 kg/m2. Người tham gia được phân ngẫu nhiên vào khoảng 29 tuần thai kỳ để nhận một chế độ ăn năng lượng tiêu chuẩn (2.000 kcal/ngày) hoặc một chế độ ăn giảm năng lượng (1.200 kcal/ngày) cho đến 36 tuần thai kỳ.

Sau sinh, các cặp mẹ – con được theo dõi trong 12 tháng với các đo đạc nhân trắc học chi tiết, đánh giá thành phần cơ thể bằng các kỹ thuật mô hình hóa tiên tiến bao gồm Super-Imposition by Translation and Rotation (SITAR), và theo dõi tăng trưởng. Phân tích dữ liệu bao gồm cả so sánh theo nguyên tắc điều trị theo phân bổ ngẫu nhiên (intention-to-treat) và phân tích đoàn hệ quan sát đánh giá kết cục ở những phụ nữ tự giảm cân trong thai kỳ.

Kết quả chính

Kết cục ở mẹ

Hạn chế năng lượng không làm thay đổi có ý nghĩa mức tăng cân của mẹ trong tam cá nguyệt thứ ba so với nhóm chế độ ăn tiêu chuẩn trong giai đoạn trước sinh. Tuy nhiên, các phân tích đoàn hệ cho thấy những phụ nữ giảm cân trong thai kỳ (mức giảm trung bình khoảng 3 kg) có cân nặng hiệu chỉnh thấp hơn tại 3 tháng sau sinh, mặc dù khác biệt này không còn duy trì đến 12 tháng. Không ghi nhận biến cố lâm sàng bất lợi liên quan đến hạn chế năng lượng hoặc giảm cân.

Kết cục ở trẻ

Trẻ sinh ra từ những bà mẹ được phân bổ vào nhóm hạn chế năng lượng hoặc có giảm cân trong thai kỳ có cân nặng theo tuổi tương đương và vẫn nằm trong giới hạn bình thường trong suốt năm đầu đời. Cụ thể:

  • Tỷ lệ trẻ có cân nặng theo tuổi thấp hơn -2 độ lệch chuẩn dưới 5%, cho thấy nguy cơ chậm tăng trưởng thấp.
  • Trẻ phơi nhiễm với tình trạng mẹ giảm cân có nguy cơ sinh to theo tuổi thai (LGA) thấp hơn rõ rệt, đây là một biến chứng đã biết của GDM và làm tăng nguy cơ bệnh suất chu sinh.
  • Tại 3 tháng tuổi, những trẻ này có khối lượng mỡ thấp hơn mà không có bằng chứng về tăng bù quá mức hay giảm bù sau đó, gợi ý quỹ đạo tăng trưởng lành mạnh.

Nhận định từ mô hình thống kê

Mô hình SITAR củng cố các kết luận trên khi cho thấy không có khác biệt có ý nghĩa về kiểu tăng trưởng giữa các nhóm can thiệp. Phân tích hồi quy tuyến tính và logistic đã hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu tiềm tàng, qua đó hỗ trợ tính vững chắc của kết quả nghiên cứu.

Bình luận của chuyên gia

Nghiên cứu này giải quyết một mối quan tâm lâm sàng quan trọng về tính an toàn của việc hạn chế năng lượng ở giai đoạn cuối thai kỳ biến chứng bởi GDM. Kết quả ủng hộ giả thuyết rằng hạn chế năng lượng có kiểm soát hoặc giảm cân mức độ vừa trong tam cá nguyệt thứ ba ở phụ nữ có BMI cao và GDM không gây bất lợi cho sự tăng trưởng của trẻ, đồng thời có thể làm giảm nguy cơ thai phát triển quá mức — một yếu tố quyết định chính của các kết cục sản khoa bất lợi.

Những kết quả này phù hợp với hiểu biết sinh lý rằng chuyển hóa của mẹ trong giai đoạn cuối thai kỳ có thể thích nghi với điều chỉnh dinh dưỡng mức độ vừa mà không làm suy giảm cung cấp dưỡng chất cho thai nhi nếu được quản lý cẩn thận. Điều này có thể tạo ra một sự thay đổi trong cách tiếp cận, khuyến khích các can thiệp dinh dưỡng cá thể hóa nhằm tối ưu hóa đường huyết và cân nặng của mẹ mà không quá lo ngại việc gây hạn chế tăng trưởng thai.

Hạn chế của nghiên cứu bao gồm thời gian theo dõi tương đối ngắn, chỉ đến 1 năm; các ảnh hưởng dài hạn lên sức khỏe chuyển hóa của trẻ vẫn cần được làm rõ. Ngoài ra, quần thể nghiên cứu chỉ bao gồm phụ nữ có BMI ≥25 kg/m2, do đó khả năng ngoại suy sang các thai kỳ có cân nặng bình thường còn hạn chế. Cần có các nghiên cứu trong tương lai đánh giá kết cục phát triển thần kinh, hồ sơ chuyển hóa chi tiết và nguy cơ béo phì dài hạn ở mốc 3 năm trở lên.

Kết luận

Ở phụ nữ mắc đái tháo đường thai kỳ và có BMI cao, hạn chế năng lượng trong tam cá nguyệt thứ ba hoặc giảm cân mức độ vừa ở mẹ không ảnh hưởng bất lợi đến tăng trưởng hay thành phần cơ thể của trẻ đến 1 năm sau sinh. Các can thiệp này giúp giảm an toàn nguy cơ sinh trẻ LGA và có thể góp phần cải thiện hồ sơ cân nặng sau sinh của mẹ. Các hướng dẫn lâm sàng có thể cân nhắc đưa chiến lược hạn chế năng lượng có kiểm soát dưới sự giám sát y khoa vào thực hành nhằm tối ưu hóa kết cục ở thai kỳ GDM.

Kinh phí và đăng ký nghiên cứu

Nghiên cứu này được hỗ trợ bởi các tổ chức tài trợ nghiên cứu về đái tháo đường có liên quan. Thử nghiệm lâm sàng được đăng ký trên clinicaltrials.gov với mã số NCT trong khuôn khổ thử nghiệm DiGest.

Tài liệu tham khảo

1. Ma RCW, et al. Gestational diabetes mellitus and maternal obesity: Intertwining risks and prevention. Nat Rev Endocrinol. 2022;18(7):394-408.
2. Meek CL, et al. Dietary Energy Restriction in Gestational Diabetes: The DiGest Randomized Controlled Trial. Diabetes Care. 2023;46(3):672-680.
3. Catalano PM, et al. Effects of weight loss during pregnancy on maternal and neonatal outcomes in obese women with gestational diabetes mellitus. Am J Obstet Gynecol. 2020;222(3):283.e1-283.e12.
4. Cole TJ, et al. Growth curve modelling using Super-Imposition by Translation and Rotation (SITAR) – A practical approach to modeling childhood growth. Stat Methods Med Res. 2010;19(3):451-464.
5. ACOG Practice Bulletin No. 190: Gestational Diabetes Mellitus. Obstet Gynecol. 2018;131(2):e49-e64.

Comments

No comments yet. Why don’t you start the discussion?

Để lại một bình luận