Chất ức chế SGLT2 giúp cải thiện hồi phục sau lấy huyết khối nội mạch ở bệnh nhân đột quỵ đái tháo đường: Nghiên cứu hồi cứu đa trung tâm

Điểm nổi bật

  • Việc sử dụng chất ức chế đồng vận chuyển natri-glucose 2 (SGLT2i) sau can thiệp lấy huyết khối nội mạch ở bệnh nhân đái tháo đường có liên quan đến kết cục chức năng sau 3 tháng tốt hơn rõ rệt.
  • Nghiên cứu cho thấy phân bố điểm trên Thang điểm Rankin sửa đổi (modified Rankin Scale, mRS) được cải thiện, đồng thời tăng khả năng đạt được hồi phục thuận lợi và hồi phục xuất sắc sau 3 tháng.
  • Các kết quả nhất quán qua nhiều phân tích điểm xu hướng từ một đoàn hệ đa trung tâm lớn củng cố độ vững chắc của phát hiện.
  • Bằng chứng này ủng hộ việc tiếp tục tiến hành các thử nghiệm tiến cứu để làm rõ vai trò điều trị của SGLT2i trong quản lý đái tháo đường sau đột quỵ.

Bối cảnh nghiên cứu

Đột quỵ vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật trên toàn cầu và đặc biệt ảnh hưởng nặng nề đến bệnh nhân đái tháo đường (Diabetes Mellitus). Đái tháo đường không chỉ làm tăng nguy cơ đột quỵ mà còn làm xấu đi kết cục do các tác động chuyển hóa và mạch máu phức tạp. Can thiệp lấy huyết khối nội mạch (Endovascular Thrombectomy, EVT) đã tạo ra bước tiến lớn trong điều trị đột quỵ tắc mạch lớn, cải thiện tỷ lệ tái thông mạch và phục hồi thần kinh. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân đái tháo đường vẫn có kết cục chưa tối ưu mặc dù đã được EVT, cho thấy cần có các liệu pháp bổ trợ nhằm giải quyết các rối loạn chuyển hóa nền tảng.

Chất ức chế đồng vận chuyển natri-glucose 2 (Sodium-Glucose Cotransporter 2 Inhibitors, SGLT2i) là các thuốc điều trị đái tháo đường có tác dụng giảm tái hấp thu glucose tại ống lượn gần của thận, đồng thời ngày càng có nhiều bằng chứng về lợi ích tim mạch và thận độc lập với kiểm soát đường huyết. Các nghiên cứu tiền lâm sàng mới nổi cho thấy SGLT2i có tác dụng bảo vệ thần kinh trong mô hình đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp, có thể thông qua giảm phù não, stress oxy hóa và viêm. Tuy nhiên, dữ liệu lâm sàng đánh giá tác động của nhóm thuốc này lên kết cục chức năng sau đột quỵ, đặc biệt ở bệnh nhân được EVT, vẫn còn hạn chế.

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu này phân tích dữ liệu được thu thập tiến cứu từ bốn trung tâm đột quỵ toàn diện tại Hàn Quốc, Ý và Thụy Sĩ trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 3 năm 2025. Đoàn hệ bao gồm bệnh nhân đái tháo đường trưởng thành được thực hiện EVT do đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp mức độ vừa đến nặng, được xác định bởi điểm NIH Stroke Scale (NIHSS) ban đầu trung vị là 12 (IQR 6–18).

Bệnh nhân được phân tầng theo việc khởi trị SGLT2i sau EVT; trong số 429 bệnh nhân đủ điều kiện, 51 bệnh nhân (11,9%) được dùng SGLT2i sau đột quỵ. Các tiêu chí đánh giá chính là kết cục chức năng sau 3 tháng, được đánh giá bằng modified Rankin Scale (mRS), gồm: sự thay đổi phân bố điểm mRS, kết cục thuận lợi (mRS 0–2) và kết cục xuất sắc (mRS 0–1).

Để hiệu chỉnh các yếu tố nhiễu và sai lệch chọn lựa điều trị, nhiều phương pháp dựa trên điểm xu hướng đã được áp dụng, bao gồm overlap weighting, inverse probability of treatment weighting (IPTW) và ghép cặp điểm xu hướng 1:1. Phân tích thống kê sử dụng hồi quy logistic thứ bậc cho biến đổi mRS và hồi quy logistic nhị phân cho các kết cục phân đôi.

Kết quả chính

Quần thể nghiên cứu có tuổi trung bình 73,5 tuổi và 58,0% là nam giới. Tái thông mạch thành công đạt được ở 85,3% trường hợp. Trong các phân tích đã hiệu chỉnh theo điểm xu hướng, việc sử dụng SGLT2i sau EVT luôn liên quan đến kết cục chức năng tốt hơn sau 3 tháng.

Trong mô hình overlap weighting (n có hiệu chỉnh = 37 mỗi nhóm), odds ratio chung cho sự cải thiện phân bố mRS là 2,31 (KTC 95%, 1,30–4,10), cho thấy khả năng đạt trạng thái chức năng tốt hơn cao hơn hơn hai lần khi sử dụng SGLT2i. Kết cục thuận lợi (mRS 0–2) cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê (OR 2,26; KTC 95%, 1,15–4,43).

Các phân tích IPTW tiếp tục cho thấy mối liên quan có ý nghĩa với kết cục xuất sắc (mRS 0–1), nhấn mạnh tiềm năng đạt hồi phục gần như hoàn toàn. Đáng chú ý, các phân tích dưới nhóm không cho thấy sự điều biến hiệu ứng có ý nghĩa giữa các biến lâm sàng chính như tuổi, mức độ nặng đột quỵ ban đầu, tình trạng tái thông mạch và các liệu pháp đồng thời, gợi ý khả năng áp dụng rộng rãi của kết quả.

Nghiên cứu không ghi nhận vấn đề an toàn hay biến cố bất lợi nào liên quan đến SGLT2i trong bối cảnh đột quỵ cấp này, phù hợp với hồ sơ an toàn đã được xác lập của nhóm thuốc trong điều trị đái tháo đường.

Bình luận chuyên gia

Các phát hiện này cung cấp bằng chứng thực tế đầy khích lệ, cho thấy SGLT2i không chỉ có tác dụng hạ glucose mà còn có các lợi ích đa hướng, phù hợp với nhận thức ngày càng tăng về các tác dụng chống viêm, chống oxy hóa và bảo vệ nội mô. Sự cải thiện chức năng sau EVT có thể bắt nguồn từ phục hồi thần kinh-mạch máu được tăng cường hoặc giảm tổn thương do tái tưới máu và phù não.

Mặc dù là nghiên cứu hồi cứu, việc hiệu chỉnh chặt chẽ theo điểm xu hướng và thu thập dữ liệu đa trung tâm đã củng cố tính hợp lệ của kết quả. Tuy vậy, các yếu tố gây nhiễu chưa được đo lường và cỡ mẫu hạn chế của nhóm SGLT2i vẫn đòi hỏi diễn giải thận trọng. Các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng là cần thiết để xác nhận quan hệ nhân quả, thời điểm khởi trị tối ưu và chiến lược liều dùng SGLT2i sau đột quỵ.

Các ủy ban xây dựng hướng dẫn có thể cân nhắc dữ liệu mới nổi này khi cập nhật khuyến cáo về quản lý đái tháo đường sau đột quỵ, do gánh nặng tàn tật còn tồn lưu rất lớn ở quần thể nguy cơ cao này.

Kết luận

Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu đa quốc gia này cho thấy rằng SGLT2 inhibitors, khi được sử dụng sau can thiệp lấy huyết khối nội mạch ở bệnh nhân đột quỵ đái tháo đường, giúp cải thiện đáng kể kết cục chức năng sau 3 tháng. Dữ liệu nhấn mạnh một hướng điều trị đầy triển vọng nhằm tăng cường hồi phục và giảm tàn tật ở quần thể dễ tổn thương này.

Các thử nghiệm lâm sàng tiến cứu, quy mô lớn trong tương lai nên khảo sát cơ chế, xác nhận hiệu quả và tính an toàn, đồng thời xác định các quy trình chuẩn hóa để tích hợp SGLT2i vào chăm sóc toàn diện sau đột quỵ cho bệnh nhân đái tháo đường.

Về tài trợ và đăng ký thử nghiệm

Nghiên cứu được thực hiện tại nhiều trung tâm học thuật và không công bố tài trợ cụ thể từ ngành công nghiệp. Thông tin đăng ký thử nghiệm lâm sàng và chi tiết tài trợ không được nêu rõ trong bài báo đã công bố.

Tài liệu tham khảo

  • Yang W, Lee JS, Kim BJ, et al. Sodium-Glucose Cotransporter 2 Inhibitor Use and Functional Outcomes After Endovascular Thrombectomy in Diabetic Stroke. Stroke. 2026 Sep 14. PMID: 42734063.
  • Goyal M, Menon BK, van Zwam WH, et al. Endovascular thrombectomy after large-vessel ischaemic stroke: a meta-analysis of individual patient data from five randomised trials. Lancet. 2016 Apr 23;387(10029):1723-31.
  • Fisher M, Schaer GL. SGLT2 inhibitors in stroke: potential neuroprotective mechanisms and implications. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2023;32(7):106788.
  • American Diabetes Association. 10. Cardiovascular Disease and Risk Management: Standards of Medical Care in Diabetes—2024. Diabetes Care. 2024 Jan;47(Suppl 1):S158-S177.

Comments

No comments yet. Why don’t you start the discussion?

Để lại một bình luận