Mức tài trợ cao từ hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance, ODA) có liên quan đến sự giảm đáng kể tử vong do mọi nguyên nhân và tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi tại các quốc gia thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp.
Các chính sách tái phân phối tài sản, bao gồm thuế tài sản và thuế tiền điện tử đối với nhóm cá nhân siêu giàu, cho thấy tiềm năng ngăn chặn hàng triệu ca tử vong mặc dù nguồn tài trợ ODA đang tiếp tục suy giảm.
Tích hợp các chiến lược tái phân phối với các khuôn khổ phát triển hiện có sẽ hỗ trợ các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc, đặc biệt là về công bằng y tế.
Các mô hình vi mô mô phỏng ở cấp quốc gia cung cấp công cụ dự báo vững chắc để hỗ trợ hoạch định chính sách và chiến lược viện trợ quốc tế đến năm 2030.
Bối cảnh
Bức tranh toàn cầu về hỗ trợ nhân đạo và hỗ trợ phát triển đã chứng kiến sự suy giảm đáng kể về nguồn tài trợ hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance, ODA) trong bối cảnh tích lũy tài sản ngày càng tập trung và bất bình đẳng kinh tế – xã hội gia tăng. Sự đối lập này cho thấy một nghịch lý: năng lực tài trợ cho các cải thiện sức khỏe toàn cầu đang suy yếu trong khi khoảng cách bất bình đẳng lại nới rộng. ODA đóng vai trò then chốt trong việc tài trợ cho các chương trình y tế và các yếu tố quyết định xã hội của sức khỏe tại 59 quốc gia thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp (LLMICs), nơi việc cắt giảm viện trợ có thể dẫn đến hậu quả bất lợi về tử vong, chủ yếu ở các nhóm dân số dễ bị tổn thương như trẻ em dưới 5 tuổi.
Việc nhận diện cuộc khủng hoảng này đã thúc đẩy các kêu gọi từ những thỏa thuận đa phương gần đây nhằm khám phá các cơ chế phi truyền thống, chẳng hạn như chính sách tái phân phối tài sản trong nước, để duy trì hoặc tăng cường nguồn tài trợ cho các mục tiêu phát triển. Trong bối cảnh phân bổ tài sản toàn cầu rất không đồng đều—với số lượng cá nhân siêu giàu (ultra-high-net-worth, UHNW) ngày càng tăng—việc xem xét các chiến lược tái phân phối tài khóa là rất quan trọng nhằm đối phó với các hệ quả sức khỏe tiêu cực do cắt giảm tài trợ ODA gây ra.
Nội dung chính
Bằng chứng từ các phân tích hồi cứu (2002-2021)
Cơ sở bằng chứng chủ yếu đến từ một đánh giá hồi cứu nghiêm ngặt kéo dài gần hai thập kỷ về tác động của ODA đối với các kết cục sức khỏe. Sử dụng bộ dữ liệu bảng dọc chất lượng cao từ 59 LLMICs, Sibils et al. (2026) đã áp dụng mô hình hồi quy Poisson hiệu cố định hai chiều để định lượng mối liên quan giữa ODA bình quân đầu người và các kết cục tử vong, đồng thời hiệu chỉnh theo các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế – xã hội và hệ thống y tế.
Các phát hiện chính cho thấy, so với mức tài trợ ODA cơ sở, mức phơi nhiễm ODA cao có liên quan đến giảm 24% tử vong do mọi nguyên nhân đã chuẩn hóa theo tuổi (RR 0,76; KTC 95%: 0,67-0,87) và giảm 33% tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi (RR 0,67; KTC 95%: 0,50-0,89). Các kết quả này nhất quán qua nhiều phân tích nhạy cảm và được đối chiếu bằng các nguồn dữ liệu bổ sung, qua đó củng cố tính vững chắc và khả năng diễn giải nhân quả.
Dự báo tác động của các chính sách tái phân phối tài sản (2026-2030)
Trên nền tảng đó, các mô hình vi mô mô phỏng đã được sử dụng để đánh giá 10 chính sách tái phân phối tài sản khác nhau, được điều chỉnh phù hợp với bối cảnh quốc gia của các nước được nghiên cứu. Các chính sách bao gồm thuế ở mức vừa phải đối với tiền điện tử do người giàu nắm giữ, và thuế tài sản áp dụng cho các cá nhân UHNW. Các phân tích kịch bản này mô hình hóa kết cục tử vong dưới các phương án triển khai chính sách thay thế so với kịch bản phản thực tế là ODA tiếp tục bị cắt giảm.
Các kết quả dự báo cho thấy tất cả các chính sách được đánh giá đều có thể giảm đáng kể tử vong đến năm 2030:
Thuế tiền điện tử 3% đối với 10.000 người nắm giữ tiền điện tử hàng đầu có thể ngăn chặn khoảng 6,6 triệu ca tử vong nói chung (KTC bất định 95% [UI] 4,88-8,37 triệu), bao gồm khoảng 1,31 triệu ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi.
Biện pháp có tác động mạnh nhất—thuế tài sản 3% đối với các cá nhân UHNW—được dự báo có thể ngăn chặn gần 29,5 triệu ca tử vong nói chung (UI 95%: 20,3-38,6 triệu), với 3,46 triệu ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi được ngăn chặn.
Các dự báo này nhấn mạnh rằng các chính sách tái phân phối tài sản có thể đóng vai trò như công cụ tài khóa hiệu quả để giảm bớt tổn thất sức khỏe do viện trợ quốc tế suy giảm gây ra.
Tích hợp và hàm ý chính sách
Về cơ chế, tái phân phối tài sản giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của bất bình đẳng sức khỏe bằng cách phân bổ lại nguồn lực tài chính, qua đó duy trì các dịch vụ xã hội, bao gồm cơ sở hạ tầng y tế và các can thiệp dự phòng. Những cơ chế này phù hợp với các khuôn khổ kinh tế học hành vi và các yếu tố quyết định xã hội của sức khỏe, thừa nhận rằng thu nhập và tài sản là những yếu tố quyết định mạnh mẽ đến khả năng tiếp cận và chất lượng chăm sóc y tế cũng như dinh dưỡng.
Các can thiệp tái phân phối được nghiên cứu cũng phản ánh cuộc thảo luận quốc tế đang diễn ra về tài chính đổi mới cho phát triển, bao gồm huy động nguồn lực trong nước và các khái niệm đánh thuế tài sản toàn cầu được các cơ quan như Liên Hợp Quốc và G20 ủng hộ.
Cách tiếp cận mô hình hóa tích hợp này thể hiện một tiến bộ phương pháp luận bằng cách kết hợp đánh giá tác động dịch tễ học với mô phỏng vi mô kinh tế, qua đó nối kết chính sách kinh tế vĩ mô với các kết cục sức khỏe trong các mô hình dự báo.
Bình luận của chuyên gia
Các phát hiện này ủng hộ một cách vững chắc tiền đề rằng việc cắt giảm ODA làm gia tăng nguy cơ tử vong, đặc biệt ở các nhóm dân số dễ bị tổn thương như trẻ em dưới 5 tuổi. Điều này nhấn mạnh tính cấp thiết của các mô hình tài trợ thay thế. Trong lịch sử, các chính sách tái phân phối tài sản thường đối mặt với thách thức chính trị và kinh tế, bao gồm sự phản đối từ các bên có lợi ích kinh tế; tuy nhiên, những tiến bộ trong triển khai chính sách thuế và hợp tác quốc tế đối với tài sản kỹ thuật số đang tạo ra các khuôn khổ đầy hứa hẹn.
Mặc dù thuế tài sản mang lại lợi ích giảm tử vong cao hơn, các lựa chọn ôn hòa hơn nhưng khả thi về mặt chính trị như thuế tiền điện tử vẫn đem lại lợi ích sức khỏe đáng kể, phản ánh một phổ lựa chọn chính sách mang tính thực tiễn. Quan trọng là nghiên cứu đã hiệu chỉnh chặt chẽ các yếu tố gây nhiễu, bao gồm các chỉ số hệ thống y tế và biến động nhân khẩu học, qua đó tăng cường giá trị nội tại.
Các hạn chế bao gồm sự không chắc chắn vốn có trong dự báo dài hạn, khả năng khác biệt về mức độ chấp nhận và tuân thủ chính sách, và bối cảnh chính trị đặc thù của từng quốc gia ảnh hưởng đến triển khai. Tuy nhiên, sự hội tụ của nhiều phương pháp phân tích và các phân tích nhạy cảm mở rộng đã làm tăng độ tin cậy của các kết luận.
Từ góc độ ứng dụng, việc tận dụng các phát hiện này đòi hỏi tăng cường đối thoại giữa các nhà hoạch định chính sách y tế toàn cầu, bộ tài chính và các tổ chức phát triển quốc tế để hiện thực hóa tái phân phối tài sản như một phần của đáp ứng toàn diện đối với việc cắt giảm tài trợ ODA.
Kết luận
Tổng hợp các đánh giá hồi cứu và mô hình dự báo cho thấy rõ ràng rằng các chính sách tái phân phối tài sản là những chiến lược khả thi và có tác động đáng kể nhằm giảm thiểu các hệ quả sức khỏe bất lợi do sự suy giảm của hỗ trợ phát triển chính thức. Bằng cách ngăn chặn hàng triệu ca tử vong, đặc biệt ở trẻ em dưới 5 tuổi, các can thiệp tài khóa này có thể thúc đẩy tiến trình hướng tới các Mục tiêu Phát triển Bền vững trong bối cảnh bức tranh viện trợ toàn cầu đang thay đổi.
Nghiên cứu trong tương lai nên mở rộng sang đánh giá các con đường triển khai, xem xét mức độ chấp nhận về kinh tế – xã hội và chính trị, đồng thời tinh chỉnh các mô hình vi mô mô phỏng để đưa vào các xu hướng kinh tế toàn cầu động và những thách thức sức khỏe mới nổi.
Tài liệu tham khảo
Sibils GB, Anderle RVR, da Silva AF, et al. Wealth redistribution policies to mitigate the impact of development assistance defunding: a retrospective evaluation and forecasting analysis up to 2030. Lancet. 2026;408(10562):1346-1360. doi:10.1016/S0140-6736(26)00345-7. PMID: 42705250.
World Health Organization. Global Health Observatory data repository. https://www.who.int/data/gho
United Nations. Financing for Development in the Era of COVID-19 and Beyond. Report of the Inter-agency Task Force on Financing for Development. 2021.